9:07 16/10/2015
Cỡ chữ

Trong 5 năm qua (2010-2015), tình hình kinh tế, chính trị thế giới và trong nước có những diễn biến phức tạp. Kinh tế thế giới phục hồi chậm; tình hình biển Đông diễn biến phức tạp. Đối với tỉnh ta, tình hình thiên tai, hạn hán, lũ lụt và dịch bệnh trong cây trồng, vật nuôi đã tác động tiêu cực đến sản xuất và đời sống của nhân dân; nguồn nội lực hạn chế; huy động nguồn ngoại lực gặp nhiều khó khăn; kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội còn yếu kém; trình độ công nghệ lạc hậu; chi phí sản xuất cao; năng suất, chất lượng và hiệu quả đầu tư, kinh doanh thấp; chất lượng nguồn nhân lực chưa đáp ứng được yêu cầu; đời sống nhân dân ở vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số trên địa bàn tỉnh còn nhiều khó khăn...

 Trong bối cảnh đó, Đảng bộ và nhân dân Bình Định đã có nhiều cố gắng, nỗ lực khắc phục khó khăn đã đạt được những kết quả quan trọng.

 * Tình hình kinh tế - xã hội của tỉnh trong 5 năm (2010 – 2015)

Nền kinh tế của tỉnh tiếp tục tăng trưởng và phát triển. Giá trị tổng sản phẩm địa phương (GRDP) tăng bình quân hàng năm 9,2%(1). GRDP bình quân đầu người cuối năm 2015 ước đạt 40,1 triệu đồng. Cơ cấu kinh tế chuyển dịch tích cực: tỉ trọng giá trị nông, lâm, ngư nghiệp 27,7%; công nghiệp - xây dựng 30,4%, dịch vụ 41,9%.

Cụ thể,  sản xuất công nghiệp được duy trì và có bước phát triển. Tỉnh đã tiến hành điều chỉnh, bổ sung quy hoạch phát triển công nghiệp tỉnh Bình Định đến năm 2015 và tầm nhìn đến năm 2020. Đến nay, toàn tỉnh có 962 doanh nghiệp hoạt động trong các khu, cụm công nghiệp; trong đó có 148 dự án mới đi vào hoạt động (giai đoạn 2011 - 2015). Khu kinh tế Nhơn Hội và các khu công nghiệp có 217 doanh nghiệp (trong đó có 78 dự án mới), các cụm công nghiệp có 745 doanh nghiệp (trong đó 70 dự án mới). Giá trị sản xuất công nghiệp tăng bình quân hàng năm 9,7%. Một số dự án đã đi vào hoạt động. Dự án Tổ hợp Lọc hóa dầu Khu kinh tế Nhơn Hội đã được Chính phủ bổ sung vào Quy hoạch ngành dầu khí Việt Nam đến năm 2015, định hướng đến năm 2025, đang tiến hành các thủ tục cấp giấy chứng nhận đầu tư. Đây là dự án lớn, có vai trò tạo bước đột phá trong phát triển công nghiệp, phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh trong những năm tới.

Sản xuất nông nghiệp phát triển khá toàn diện; công tác xây dựng nông thôn mới đạt một số kết quả bước đầu. Tỉnh đã chỉ đạo triển khai thực hiện một số cơ chế, chính sách hỗ trợ phát triển nông, lâm, ngư nghiệp. Cơ giới hóa nông nghiệp phát triển tương đối nhanh ở hầu hết các khâu trước, trong và sau thu hoạch, diện tích làm đất bằng máy đạt 95%; sử dụng máy gieo hạt 55%; thu hoạch bằng máy 60%; tuốt lúa 95%. Năng suất, chất lượng sản phẩm nhiều loại cây trồng tăng khá. Sản lượng lương thực có hạt bình quân hàng năm đạt gần 690.000 tấn, tăng 6% (so với giai đoạn 2005 - 2010); năng suất lúa năm 2015 tăng 9,8% so với năm 2010. Chăn nuôi tiếp tục phát triển. Năng lực đánh bắt và sản lượng khai thác, nuôi trồng thủy sản tăng khá, so với năm 2010, đến nay, công suất tàu cá toàn tỉnh tăng 186% (số lượng tàu giảm so với năm 2010 nhưng công suất tăng do ngư dân không sử dụng tàu công suất thấp chuyển sang đóng tàu công suất cao 1.143.000 CV/614.244 CV); số lượng tàu đánh bắt xa bờ tăng 58% (2.953 tàu/1.873 tàu); sản lượng đánh bắt tăng 35% (191.000 tấn/141.655 tấn); sản lượng nuôi trồng thủy sản tăng 3,62% (9.062 tấn/8.743 tấn).. Công tác quản lý, bảo vệ, phát triển rừng được chú trọng. Giá trị sản xuất nông, lâm, thủy hải sản tăng bình quân hàng năm 5,1%. Cơ cấu kinh tế nông nghiệp chuyển dịch theo hướng tăng tỉ trọng giá trị sản xuất ngành chăn nuôi và dịch vụ nông nghiệp. Chương trình xây dựng nông thôn mới đạt được những kết quả quan trọng. Đến cuối năm 2015, có 28 xã được công nhận đạt 19 tiêu chí về xây dựng nông thôn mới.

Hoạt động thương mại, dịch vụ, du lịch có bước phát triển khá. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và dịch vụ xã hội tăng bình quân 15,8%. Cuộc vận động “Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam” đạt kết quả khả quan. Hoạt động du lịch có bước phát triển khá;... Bình quân hằng năm lượng khách du lịch đến tỉnh tăng 21%, doanh thu du lịch tăng 30%. Năm 2015, hàng thông qua cảng biển đạt trên 9 triệu tấn.

Các công trình kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội thiết yếu tiếp tục được đầu tư xây dựng. Tổng vốn đầu tư toàn xã hội trên địa bàn tỉnh chiếm tỉ trọng 41,6% GRDP, tăng bình quân hàng năm 20,52%. Các công trình trọng điểm về giao thông, thủy lợi, điện, nước sinh hoạt, viễn thông, hạ tầng đô thị, trường học, cơ sở y tế, văn hóa, hạ tầng Khu kinh tế Nhơn Hội và các khu, cụm công nghiệp, cảng biển... tiếp tục được đầu tư xây dựng, nâng cấp, mở rộng. Nhiều công trình đã hoàn thành, đưa vào sử dụng như: tuyến đường phía tây của tỉnh, đường Nguyễn Tất Thành nối dài, Quốc lộ 1D đoạn từ Ngã ba Phú Tài - Ngã ba Long Vân, hệ thống đèn tín hiệu bay đêm và đường vào sân bay Phù Cát, Trung tâm Quốc tế gặp gỡ khoa học và giáo dục liên ngành,... Một số dự án lớn đang triển khai thi công: nâng cấp Quốc lộ 1A, Quốc lộ 19 qua địa bàn tỉnh, dự án Quốc lộ 1D từ Ngã ba Long Vân đến Bến xe liên tỉnh và các dự án chỉnh trang đô thị trên địa bàn thành phố Quy Nhơn, Dự án mở rộng sân đậu máy bay, xây dựng mới cảng Hàng không Phù Cát và nhiều dự án khác trên các lĩnh vực giáo dục, y tế, du lịch, văn hóa, an sinh xã hội. Đã hoàn thành công tác quy hoạch và xây dựng các thị trấn Bồng Sơn, Phú Phong đạt chuẩn đô thị loại IV; lập hồ sơ đề nghị và được Thủ tướng Chính phủ ra quyết định công nhận An Nhơn trở thành thị xã năm 2011.

Các chính sách khuyến khích phát triển các thành phần kinh tế được quan tâm thực hiện. Đến nay trên địa bàn tỉnh có gần 5.000 doanh nghiệp hoạt động; tăng bình quân hàng năm 10% (hầu hết là doanh nghiệp vừa và nhỏ). Toàn tỉnh có 217 hợp tác xã, trong đó có: 158 HTX nông nghiệp, 57 HTX phi nông nghiệp, 01 HTX chăn nuôi, 01 HTX thủy sản. Tổng số 475.175 xã viên; lao động làm việc thường xuyên trong hợp tác xã khoảng 2.136 người; tổng vốn hoạt động trên 568 tỷ đồng; doanh thu trên 347 tỉ đồng; lợi nhuận sau thuế khoảng 10,5 tỉ đồng, bình quân khoảng 53,3 triệu đồng/hợp tác xã.

 Tỉnh đã chú trọng khai thác các tiềm năng, lợi thế để phát triển các vùng kinh tế. Tỉ lệ đô thị hoá đạt 33%. Vùng đồng bằng cơ bản đã hình thành một số vùng chuyên canh, thâm canh, hệ thống kết cấu hạ tầng vùng đồng bằng tiếp tục được đầu tư xây dựng, 100% số thôn có điện lưới, 95,5% số hộ sử dụng nước hợp vệ sinh. Các công trình hạ tầng thiết yếu vùng miền núi, trung du được tiếp tục tập trung đầu tư; Các đô thị ven biển từng bước được hình thành. Tiềm năng kinh tế biển và vùng ven biển bước đầu được khai thác hợp lý.

 Sự nghiệp giáo dục - đào tạo và khoa học - công nghệ phát triển tương đối toàn diện. Chất lượng và quy mô giáo dục - đào tạo có chuyển biến tiến bộ. Mạng lưới trường, lớp học mầm non, phổ thông và các cơ sở dạy nghề phát triển phù hợp với phân bố dân cư và địa hình của tỉnh. Tỉnh đã triển khai các giải pháp mở rộng ngành nghề, nâng cao chất lượng đào tạo, góp phần quan trọng trong việc đào tạo nguồn nhân lực cho tỉnh và khu vực. Tỉ lệ trường học có cơ sở vật chất được công nhận đạt chuẩn quốc gia: mầm non chiếm tỷ lệ 15,5% (tăng 9,2% so với năm 2010), tiểu học chiếm tỷ lệ 71,9% (tăng 28,4% so với năm 2010), trung học cơ sở chiếm tỷ lệ 69% (tăng 31,9% so với năm 2010), trung học phổ thông đạt 16,7% (tăng 13,6% so với năm 2010). Chất lượng nguồn nhân lực chuyển biến tích cực.Trung tâm Quốc tế Gặp gỡ khoa học - giáo dục liên ngành đã hoàn thành giai đoạn 1 và đi vào hoạt động, tạo điều kiện thuận lợi cho đội ngũ khoa học trong tỉnh và khu vực có điều kiện tiếp cận với khoa học cơ bản, làm tiền đề thúc đẩy khoa học ứng dụng phát triển. Đã thành lập Viện Nghiên cứu phát triển kinh tế - xã hội tỉnh nhằm nghiên cứu, tham mưu xây dựng các định hướng, chiến lược phát triển của tỉnh.

 Lĩnh vực văn hóa, xã hội có nhiều tiến bộ. Chất lượng các hoạt động văn hóa, thông tin - truyền thông, thể dục -  thể thao, y tế tiếp tục được nâng cao. Tỉ lệ phủ sóng phát thanh - truyền hình trên địa bàn tỉnh 95%; 1,6 triệu thuê bao điện thoại cố định và di động; 50.273 thuê bao internet. Công tác xã hội hoá các hoạt động văn hoá, thể dục - thể thao được mở rộng. Đã chú trọng đầu tư phát triển một số bộ môn thể thao thành tích cao của tỉnh đi đôi với phát triển phong trào thể dục, thể thao quần chúng. Công tác y tế dự phòng, phòng chống dịch bệnh và vệ sinh môi trường, chăm sóc sức khỏe ban đầu cho nhân dân có tiến bộ. Công tác dân số - kế hoạch hoá gia đình được coi trọng. Mức hưởng thụ các dịch vụ y tế của nhân dân tăng lên, đặc biệt là trẻ em, người nghèo, đồng bào dân tộc thiểu số. Đã tranh thủ nhiều nguồn vốn đầu tư xây dựng mới, nâng cấp cơ sở vật chất, mua sắm trang thiết bị hiện đại và đào tạo đội ngũ cán bộ, nhân viên y tế cho các bệnh viện trong tỉnh. Hoạt động sản xuất dược phẩm đạt kết quả tích cực. Mạng lưới y tế cơ sở tiếp tục được củng cố, tăng cường.

Các chính sách an sinh xã hội và các vấn đề xã hội được chú trọng thực hiện. Tỉnh đã huy động được nhiều nguồn vốn trong xã hội cho công tác giảm nghèo; tỉ lệ hộ nghèo giảm còn 6,25%.

Mục tiêu của tỉnh trong 5 năm tới là Bình Định trở thành tỉnh phát triển khá của khu vực miền Trung, với các chỉ tiêu: Giá trị tổng sản phẩm địa phương bình quân hàng năm tăng 8%%; trong đó công nghiệp - xây dựng tăng 12,5%, nông - lâm - ngư nghiệp tăng 3,5%, dịch vụ tăng 6,5%. Đến năm 2020: cơ cấu kinh tế: công nghiệp - xây dựng 37%, dịch vụ 35,8%, nông - lâm - ngư nghiệp 21% và thuế trừ trợ cấp sản phẩm 6,2%; GRDP bình quân đầu người đạt 3.200 - 3.500 USD; thu ngân sách 11.000 tỉ đồng. Kim ngạch xuất khẩu giai đoạn 2016 - 2020 đạt 4,5 tỉ USD. Huy động vốn đầu tư toàn xã hội 5 năm đạt 47% GRDP. Trên 50% số xã đạt chuẩn nông thôn mới. Tỉ lệ lao động qua đào tạo, bồi dưỡng nghề 56%. Mỗi năm giải quyết việc làm mới cho 28.000 - 32.000 lao động. Năng suất lao động xã hội bình quân (theo giá so sánh năm 2010) tăng 6,06%/năm. 100% số xã có bác sĩ; trên 80% số xã đạt chuẩn quốc gia về y tế xã. Giảm tỉ lệ hộ nghèo từ 1,5% - 2% mỗi năm theo tiêu chí mới. Tỉ lệ người tham gia bảo hiểm y tế đạt 80% so với dân số. Tỉ lệ che phủ rừng đạt trên 52%. 99% dân số nông thôn sử dụng nước hợp vệ sinh; 80% dân số đô thị được cấp nước sạch (Quy Nhơn 98%); 80% chất thải rắn ở đô thị được xử lý (Quy Nhơn 98%); 100% chất thải công nghiệp, chất thải y tế được thu gom và xử lý đạt chuẩn môi trường.

 * Phương hướng nhiệm vụ

Để đạt được chỉ tiêu trên, tỉnh đã đề ra những giải pháp nhiệm vụ cơ bản thúc đẩy kinh tế - xã hội cho 5 năm tới.

Cụ thể, rà soát điều chỉnh, bổ sung Quy hoạch phát triển công nghiệp đến năm 2020 và định hướng đến năm 2030. Đẩy mạnh phát triển công nghiệp với tốc độ tăng trưởng nhanh, bền vững. Tiếp tục thu hút một số dự án công nghiệp sử dụng nhiều lao động để giải quyết việc làm, góp phần chuyển dịch cơ cấu lao động. Tập trung đầu tư hoàn chỉnh các công trình kết cấu hạ tầng thiết yếu Khu kinh tế Nhơn Hội và vùng phụ cận; tạo mối liên hệ chặt chẽ với các khu kinh tế trong vùng kinh tế trọng điểm miền Trung; coi đây vừa là giải pháp, vừa là mục tiêu phát triển để thu hút các dự án công nghiệp lớn, đặc biệt là công nghiệp lọc hóa dầu và các ngành công nghiệp phụ trợ, công nghiệp cảng biển, dự án Khu phức hợp Công nghiệp - Đô thị - Thương mại và Dịch vụ Canh Vinh (VSIP)... tạo động lực phát triển nền kinh tế của tỉnh.

Đẩy mạnh phát triển các ngành công nghiệp có lợi thế về nguồn nguyên liệu, nhân lực. Tập trung vào các mặt hàng gỗ, với dây chuyền công nghệ hiện đại, thiết bị tiên tiến; phát triển hệ thống các nhà máy chế biến thức ăn chăn nuôi; xây dựng các nhà máy chế biến nông sản áp dụng công nghệ cao. Đẩy mạnh phát triển công nghiệp chế biến đá và tiêu thụ các sản phẩm từ đá granit. Tập trung phát triển vật liệu xây dựng không nung và một số chủng loại vật liệu xây dựng công nghệ cao phục vụ nhu cầu xây dựng trên địa bàn. Tiếp tục đẩy mạnh sản xuất dược phẩm. Hỗ trợ, tạo điều kiện cho dệt may, sản xuất pigment và titan kim loại, titan xốp, que hàn và dây hàn điện cao cấp;…

Tái cơ cấu sản xuất nông nghiệp, phát triển nông nghiệp toàn diện gắn với xây dựng nông thôn mới. Trong đó đẩy mạnh liên kết sản xuất và tiêu thụ sản phẩm gắn với ứng dụng khoa học - công nghệ cao, công nghệ sinh học, chuyên môn hóa sản xuất, tạo việc làm ổn định, phân công lại lao động, góp phần nâng cao thu nhập và đời sống của dân cư nông thôn, bảo vệ môi trường sinh thái và xây dựng nông thôn mới. Triển khai thực hiện các chính sách hỗ trợ ngư dân đóng tàu công suất lớn để nâng cao năng lực đánh bắt xa bờ và hậu cần nghề cá. Tăng cường công tác quản lý, bảo vệ rừng. Huy động các nguồn vốn đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng nông nghiệp, nông thôn. Phấn đấu đến cuối năm 2020, có 50% số xã trở lên đạt chuẩn nông thôn mới.

 Nâng cao hiệu quả các hoạt động thương mại, dịch vụ, đẩy mạnh xuất khẩu, phát triển du lịch trở thành ngành kinh tế quan trọng của tỉnh. Trong đó tập trung phát triển đồng bộ ngành thương mại; phấn đấu đưa tốc độ tăng trưởng lĩnh vực dịch vụ bằng hoặc cao hơn tốc độ tăng trưởng GRDP. Tiếp tục thực hiện có hiệu quả cuộc vận động “Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam” và Chương trình đưa hàng Việt về nông thôn. Phát triển các hình thức bán hàng văn minh, hiện đại, từng bước tham gia vào mạng phân phối trong và ngoài nước. Chú trọng phát triển các loại hình dịch vụ vận tải có lợi thế của tỉnh như: vận tải biển, hàng không, vận tải đường sắt. Tạo điều kiện để các nhà đầu tư nâng cấp, mở rộng Cảng Quy Nhơn. Phấn đấu đến năm 2020, hàng thông qua hệ thống cảng biển đạt công suất 20 triệu tấn/năm. Tiếp tục điều chỉnh, bổ sung cơ chế, chính sách khuyến khích xuất khẩu. Phát triển du lịch trở thành ngành kinh tế quan trọng của tỉnh, trong đó lấy du lịch biển, du lịch sinh thái làm mũi nhọn, du lịch văn hóa, lịch sử làm nền tảng. Tăng cường quản lý ngân sách nhà nước, chống thất thu, nợ đọng thuế... Phấn đấu thu ngân sách đạt và vượt chỉ tiêu đề ra. Thực hiện chi ngân sách tiết kiệm, hiệu quả. Ưu tiên bố trí chi đầu tư xây dựng các công trình trọng yếu phục vụ phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo quốc phòng - an ninh. Tiếp tục thực hiện chủ trương tiết kiệm chi thường xuyên, kiên quyết cắt giảm các khoản chi chưa thực sự cần thiết. Tập trung đầu tư các công trình giao thông trọng điểm trên địa bàn tỉnh theo Quy hoạch phát triển hệ thống cảng biển Việt Nam đến năm 2020, định hướng đến năm 2030; Tiếp tục hoàn thiện hệ thống thủy lợi và cung cấp nước phục vụ sản xuất và sinh hoạt cho nhân dân. Mở rộng Bệnh viện Đa khoa tỉnh; xây dựng mới Bệnh viện Đa khoa khu vực tại Khu đô thị mới Long Vân, Bệnh viện Sản nhi; nâng cấp Bệnh viện Đa khoa Hoài Nhơn.

Phát triển hài hòa các vùng dân cư trên địa bàn tỉnh. Tập trung khai thác có hiệu quả lợi thế của từng vùng và tạo sự liên kết giữa các vùng để phát triển hài hòa, giảm dần khoảng cách phát triển các vùng dân cư trên địa bàn tỉnh.

Cải thiện môi trường đầu tư, phát triển các thành phần kinh tế. Trong đó tiếp tục cải thiện môi trường đầu tư; nâng cao chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh. Tạo điều kiện để các doanh nghiệp sau cổ phần hóa hoạt động có hiệu quả. Phát huy vai trò kinh tế tư nhân là động lực quan trọng thúc đẩy nền kinh tế của tỉnh.

Tiếp tục xác định phát triển giáo dục - đào tạo và khoa học - công nghệ là quốc sách hàng đầu, là động lực quan trọng nhất để phát triển kinh tế - xã hội và bảo vệ Tổ quốc.

Phát triển khoa học, công nghệ, tăng cường bảo vệ môi trường và ứng phó với biến đổi khí hậu. Tập trung đẩy mạnh nghiên cứu, ứng dụng khoa học - công nghệ và khoa học xã hội - nhân văn; Phát huy vai trò và nâng cao hiệu quả hoạt động của Liên hiệp các hội Khoa học - Kỹ thuật và Viện Nghiên cứu phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh; Thực hiện các chính sách ưu đãi về thuế, tín dụng để hỗ trợ cho các doanh nghiệp đầu tư đổi mới và ứng dụng các công nghệ tiên tiến, xây dựng thương hiệu sản phẩm nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh và hiệu quả sản xuất. Tăng cường công tác quy hoạch, thăm dò, khai thác, sử dụng hiệu quả và bền vững các tài nguyên của tỉnh. Nâng cao năng lực dự báo, cảnh báo, chủ động phòng tránh và giảm nhẹ thiên tai, thích ứng với biến đổi khí hậu.

Đẩy mạnh phát triển văn hóa-xã hội. Trong đó tập trung chăm lo phát triển sự nghiệp văn hóa, thông tin truyền thông, thể dục - thể thao. Chú trọng đầu tư phát triển sự nghiệp văn hóa tương xứng với vai trò văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội; Tiếp tục đầu tư nâng cấp cơ sở vật chất, trang thiết bị kỹ thuật Đài Phát thanh và Truyền hình Bình Định, Báo Bình Định; nâng cao chất lượng phát sóng và nội dung tuyên truyền của báo, đài. Tăng cường công tác quản lý nhà nước trên lĩnh vực thông tin, truyền thông; đặc biệt là quản lý các loại hình thông tin trên internet để định hướng tư tưởng, dư luận xã hội và thị hiếu thẩm mỹ cho nhân dân, nhất là cho thanh thiếu niên. Các cơ quan truyền thông phải thực hiện đúng tôn chỉ, mục đích, góp phần xây dựng nền văn hóa Việt Nam, gìn giữ, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc. Nâng cao chất lượng công tác chăm sóc sức khỏe nhân dân, công tác dân số, kế hoạch hóa gia đình, bảo vệ và chăm sóc bà mẹ trẻ em. Tiếp tục thực hiện tốt Pháp lệnh ưu đãi người có công với cách mạng. Đến năm 2018, hoàn thành việc hỗ trợ xây dựng nhà ở đối với hộ người có công khó khăn về nhà ở. Đẩy mạnh việc thực hiện Chiến lược phát triển nhà ở quốc gia đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2030. Tăng cường quốc phòng an ninh, nền an ninh nhân dân gắn với thế trận an ninh nhân dân; xây dựng khu vực phòng thủ tỉnh vững chắc;…

Kim Yến

(Theo binhdinh.gov.vn)

 

 

Đánh giá
Đánh giá của bạn sẽ được biên tập trước khi xuất bản
Họ và tên
(*)
Thư điện tử
(*)
Tiêu đề
Nội dung
(*)
Tin mới hơn:
Cùng chuyên mục
2.073 lượt xem - 30.03.2017 : 14:18p
2.570 lượt xem - 11.05.2015 : 15:34p
4.290 lượt xem - 05.01.2015 : 14:33p
4.767 lượt xem - 28.07.2012 : 11:37p
Tin đọc nhiều
25.251 lượt xem - 07.03.2012 : 16:35p
17.444 lượt xem - 07.03.2012 : 16:37p
11.200 lượt xem - 07.03.2012 : 16:32p
8.918 lượt xem - 10.07.2012 : 15:18p
8.581 lượt xem - 28.07.2012 : 11:29p
8.534 lượt xem - 16.03.2012 : 11:08p