10:14 28/02/2019
Cỡ chữ

PGS.TS. Nguyễn Đình Hiền*

TS. Hồ Thị Minh Phương**

TÓM TẮT

Có thể nói, cho đến nay đã có hàng chục hội thảo khoa học về phát triển du lịch được tổ chức ở các địa phương, các cấp, các ngành… Nhìn chung các hội thảo đã đi sâu nghiên cứu toàn diện các mặt, các yếu tố liên quan đến phát triển du lịch như: vấn đề tài nguyên, nhân lực, tài chính, cơ chế, chính sách, môi trường, liên kêt… trong phát triển du lịch, nhờ đó đã góp phần quan trọng vào phát triển ngành du lịch của đất nước, vùng, địa phương… Bài viết này tập trung nghiên cứu một vấn đề hiện đang ít được đề cập đến đó là giải quyết hài hòa quan hệ lợi ích để tạo động lực cho phát triển du lịch, trong đó bài viết đưa ra vấn đề lý luận chung, kết quả điều tra khảo sát ở Vùng kinh tế trọng điểm miền Trung và kiến nghị những giải pháp để phát triển du lịch.



* Trường Đại học Quy Nhơn

1. Vấn đề quan hệ lợi ích trong phát triển du lịch

Hoạt động du lịch là tổng thể những hoạt động và mối quan hệ phát sinh do tác động qua lại giữa người kinh doanh du lịch, chính quyền địa phương và cộng đồng dân cư. Do đó, quan hệ lợi ích trong phát triển du lịch là quan hệ lợi ích giữa nhà kinh doanh du lịch, chính quyền địa phương và cộng đồng dân cư nơi có hoạt động du lịch. Muốn hoạt động du lịch có hiệu quả cần phải giải quyết tốt quan hệ lợi ích của 3 chủ thể nói trên để tạo động lực chung cho ngành du lịch.

Đối với người kinh doanh du lịch, một trong những mục đích cốt lõi của hoạt động sản xuất kinh doanh là lợi nhuận, đó cũng là cơ sở cho sự tồn tại và phát triển của các doanh nghiệp trong mọi nền kinh tế hoạt động theo cơ chế thị trường, là động cơ và mục tiêu của các chủ thể đầu tư và các doanh nghiệp.

Thực tế, các nhà đầu tư, các cơ sở kinh doanh du lịch thực hiện hoạt động kinh doanh  thông qua việc thực hiện một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình hoạt động kinh doanh du lịch hoặc thực hiện dịch vụ trên thị trường để đáp ứng nhu cầu của khách du lịch nhằm thu lợi nhuận. Họ là những người đầu tư tiền của, công sức, trí tuệ của mình vào hoạt động sản xuất kinh doanh để sinh lợi. Như vậy, sự hoạt động và phát triển của du lịch với động cơ lợi ích dẫn đến sự mở rộng của thị trường, số lượng khách  ngày càng tăng, các cơ sở kinh doanh du lịch mở rộng, việc sản xuất và tiêu thụ sản phẩm du lịch ngày một tăng dẫn đến hiệu quả kinh tế cao...

Đối với chính quyền địa phương nơi có hoạt động du lịch, chính quyền địa phương với vai trò nhà quản lý, có trách nhiệm thúc đẩy tăng trưởng, phát triển kinh tế và nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân địa phương. Vì vậy, chính quyền địa phương nơi có hoạt động du lịch cần nhận thức rõ những lợi ích to lớn mà hoạt động du lịch đóng góp cho phát triển kinh tế - xã hội địa phương. Những lợi ích đó có thể được cụ thể hóa bằng các mục tiêu về thu hút vốn đầu tư để tăng trưởng và phát triển kinh tế theo hướng bền vững; chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa - hiện đại hóa; mở rộng thị trường sản xuất tiêu thụ hàng hóa; tăng hoạt động xuất khẩu tại chỗ; tăng nguồn thu ngoại tệ từ chi tiêu của du khách, thuế và các loại phí của cơ sở kinh doanh du lịch; tăng trưởng GRDP của địa phương; tạo nhiều công ăn việc làm; góp phần xóa đói giảm nghèo, thay đổi đời sống và mức sống của cư dân địa phương; góp phần giữ gìn và phát huy các làng nghề truyền thống, bảo vệ các giá trị cộng đồng, thay đổi nhận thức và từng bước thu hẹp khoảng cách, sự khác biệt giữa đô thị và nông thôn về chất lượng cuộc sống; giảm bớt sức ép di dân tự do; góp phần làm ổn định trật tự xã hội;…

Khi đề cập đến những lợi ích của chính quyền địa phương cần phải xem xét đến lợi ích của các nhà kinh doanh du lịch. Nếu như mục đích của chính quyền địa phương nơi có hoạt động du lịch là kêu gọi đầu tư vào ngành du lịch để phát triển kinh tế - xã hội của địa phương thì chính quyền địa phương cần có quy định các luật lệ, chính sách để khuyến khích các nhà đầu tư vào lĩnh vực này. Ngược lại, các nhà kinh doanh có quyền lựa chọn địa phương để đầu tư. Lợi ích cao nhất của nhà kinh doanh là lợi nhuận, họ chỉ quyết định đầu tư khi dự án đầu tư của mình hiệu quả, ít chịu rủi ro... Vì vậy, họ có biểu hiện lách luật, tận dụng những kẽ hở của pháp luật, thậm chí còn vi phạm pháp luật, khai thác tài nguyên tùy tiện thiếu kế hoạch để nhằm tối đa hóa lợi nhuận. Đây cũng là nguyên nhân dẫn đến mâu thuẫn về mặt lợi ích giữa cơ sở kinh doanh du lịch và các chủ thể lợi ích liên quan.

Đối với cộng đồng dân cư nơi có hoạt động du lịch, có thể nói du lịch đem lại cơ hội việc làm, thu nhập và nâng cao đời sống cho dân cư địa phương. Giữa phát triển ngành du lịch và việc làm có sự gắn bó mật thiết với nhau. Tác động của phát triển du lịch đến việc làm theo cả hai chiều hướng, đó là có thể thúc đẩy việc làm phát triển, biến đổi cả về số lượng và chất lượng, nhưng cũng có thể kìm hãm cơ hội tìm kiếm việc làm, tuy nhiên chiều hướng thứ nhất vẫn mang tính chủ đạo. Trong thực tế, việc làm là vấn đề mà người lao động cũng như cộng đồng dân cư đều quan tâm vì nó là tiền đề để có thu nhập và thông qua công việc người lao động mới có cơ hội bộc lộ tài năng và nâng cao kiến thức vì thế nó là lợi ích cơ bản và thiết thực của họ.

Mặt khác, người dân nơi có hoạt động du lịch còn được sử dụng cơ sở vật chất, nguồn lực dịch vụ do dịch vụ du lịch mang lại. Ở đâu có du lịch phát triển thì ở đó diện mạo đô thị, nông thôn được chỉnh trang hơn, sạch đẹp hơn, cơ sở hạ tầng, thông tin liên lạc, giao thông phát triển hơn, mọi loại hình dịch vụ đa dạng phong phú và chất lượng ngày càng cao hơn,… Đồng thời, sự phát triển của du lịch kéo theo sự mở rộng giao lưu kinh tế, văn hóa giữa các địa phương, vùng miền và quốc tế góp phần giáo dục đạo đức, truyền thống văn hóa, đào tạo kiến thức, rèn luyện và bồi dưỡng thể chất và tinh thần cho mọi tầng lớp dân cư. Chính những điều này đã góp phần nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho dân cư địa phương nơi có du lịch hoạt động.

Tuy nhiên, sự phát triển của du lịch dẫn đến những hạn chế như: tăng tính thời vụ của ngành nghề làm cho người lao động phụ thuộc, bị động trong di chuyển ngành nghề, tăng số người lao động thất nghiệp và giảm thu nhập của họ; đẩy nhanh quá trình đô thị hóa làm giảm diện tích đất đai canh tác nông nghiệp đồng nghĩa với việc số lượng việc làm trong những ngành này giảm đi. Cũng như ngành nông nghiệp, ở những nơi có du lịch phát triển ngành công nghiệp cũng bị thu hẹp không gian sản xuất, thu hẹp nguồn vốn đầu tư của mình làm ảnh hưởng đến lợi nhuận của các nhà đầu tư... ngoài ra còn tạo nên sự biến tướng trong những việc làm mang tính nhạy cảm về các vấn đề xã hội như sextour, dịch vụ về tình dục,… Những việc làm này không chỉ trái với pháp luật nước Việt Nam mà còn trái với thuần phong, mỹ tục của dân tộc. Ngoài ra, còn những tệ nạn xã hội khác gây ảnh hưởng đến trật tự an ninh xã hội và đời sống dân cư địa phương.

Như vậy, mặt trái và những tác động tiêu cực của phát triển du lịch khi chưa có sự quản lý tốt là một trong những nguyên nhân dẫn đến mâu thuẫn, xung đột về mặt lợi ích giữa công đồng dân cư nơi có hoạt động du lịch với các bên có lợi ích liên quan. Vì vậy, trong phát triển du lịch cần giải quyết hài hòa lợi ích giữa các chủ thể liên quan tới hoạt động du lịch.

2. Tình hình giải quyết quan hệ lợi ích trong phát triển du lịch ở Vùng kinh tế trọng điểm miền Trung

2.1. Lợi ích của người kinh doanh du lịch

Trong thời gian qua, Nhà nước nói chung và chính quyền địa phương các tỉnh Vùng kinh tế trọng điểm miền Trung (KTTĐMT) nói riêng đã thực hiện nhiều chính sách tăng thu hút đầu tư thúc đẩy ngành du lịch phát triển, đồng thời đã mang lại lợi ích thiết thực cho các doanh nghiệp đầu tư hoạt động trong lĩnh vực này.

Để đánh giá lợi ích mang lại cho các doanh nghiệp, chúng tôi sử dụng phương pháp điều tra thực tế thông qua các bảng hỏi để lấy ý kiến của các doanh nghiệp trong Vùng. Qua nghiên cứu khảo sát 200 doanh nghiệp kinh doanh trong lĩnh vực du lịch ở các tỉnh, thành phố trong Vùng, có: nữ 15 người (chiếm 7,5%), nam 185 người (chiếm 92,5%), dưới 40 tuổi 85 người (chiếm 42,5%), dưới 50 tuổi 110 người (chiếm 55%), dưới 60 tuổi 5 người (chiếm 2,5%). Nhìn chung, độ tuổi của các nhà đầu tư là trung niên, có kiến thức và những hiểu biết nhất định trong hoạt động kinh doanh của mình… Lợi ích của các doanh nghiệp trong hoạt động du lịch thể hiện qua cơ chế, chính sách phát triển du lịch của Vùng và doanh thu của các doanh nghiệp.

Thứ nhất, về thủ tục hành chính, các tỉnh trong Vùng đã cải thiện năng lực quản lý của chính quyền địa phương, cụ thể các thủ tục hành chính ngày càng tinh giảm, thực hiện tốt cơ chế “một cửa”, “một cửa” liên thông hướng đến một môi trường đầu tư kinh doanh thông thoáng, minh bạch. Việc đăng ký cấp giấy chứng nhận đầu tư và các thủ tục liên quan đều giải quyết tại Sở Kế hoạch và Đầu tư, Trung tâm Xúc tiến đầu tư. Sở Kế hoạch và Đầu tư là đầu mối tiếp nhận, thẩm định, thẩm tra, quản lý, giám sát các dự án đầu tư trên địa bàn theo quy định của pháp luật, hướng dẫn thủ tục đầu tư và cấp phát đầu tư thuộc thẩm quyền. Trung tâm Xúc tiến đầu tư có chức năng quảng bá, xúc tiến đầu tư, tư vấn, hướng dẫn, hỗ trợ hình thành và phát triển dự án đầu tư, tiếp nhận hồ sơ, giải quyết thủ tục đầu tư trong lĩnh vực du lịch. Ngoài ra các tỉnh/thành phố trong Vùng như: Đà Nẵng, Quảng Nam có dịch vụ hỗ trợ về thủ tục hành chính cho nhà đầu tư. Hiện nay, ở các địa phương trong Vùng thời hạn cấp giấy chứng nhận đầu tư được rút ngắn hơn so với quy định của Chính phủ, thời gian giải quyết là 14 ngày làm việc, kể từ ngày nhận hồ sơ hợp lệ; trường hợp có quy hoạch được duyệt là 6 ngày kể từ ngày nhận hồ sơ hợp lệ. Điều này đã tạo điều kiện thuận lợi và cắt giảm được chi phí cho các doanh nghiệp. Kết quả khảo sát ở (bảng 1) cho thấy phần lớn các doanh nghiệp đánh giá tốt giải quyết thủ tục hành chính ở Vùng chiếm 73%, chưa tốt chỉ 11%.

          Bảng 1. Đánh giá giải quyết thủ tục hành chính đối với doanh nghiệp

                       đầu tư du lịch Vùng KTTĐMT

Mức độ

Tần số (doanh nghiệp)

Tần suất (%)

Rất tốt

0

0,0

Tốt

146

73,0

Bình thường

32

16,0

Chưa tốt

22

11,0

Tổng

200

100,00

Nguồn: Kết quả phân tích số liệu từ điều tra trực tiếp doanh nghiệp du lịch, n = 200

Thứ hai, về chính sách thuế, Nhà nước đã có Nghị định 124/2008/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp và Nghị định 122/2011/NĐ-CP các doanh nghiệp sẽ được hưởng thuế suất ưu đãi 10% trong thời hạn 15 năm đối với các dự án đầu tư trên địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn; thuế suất ưu đãi 20% áp dụng trong thời gian 10 năm đối với doanh nghiệp thành lập mới từ dự án đầu tư tại địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn; Miễn thuế lần đầu đối với hàng hóa nhập khẩu đối với các dự án đầu tư bằng vốn ODA, đầu tư về khách sạn, trung tâm thương mại, siêu thị, sân golf, khu du lịch, khu vui chơi giải trí,….

Bên cạnh thực hiện chính sách chung của cả nước đối với các doanh nghiệp, các tỉnh/thành phố trong Vùng có những chính sách ưu đãi đặc thù về thuế đối với các doanh nghiệp nói chung và doanh nghiệp đầu tư kinh doanh trong lĩnh vực du lịch nói riêng cụ thể: tỉnh Thừa Thiên Huế cam kết thực hiện theo quan điểm nhà đầu tư được hưởng mức ưu đãi cao nhất trong khung quy định pháp luật về thuế. Đối với thành phố Đà Nẵng quy định thuế suất doanh nghiêp 10% trong 15 năm, miễn thuế 4 năm kể từ khi có thu nhập chịu thuế, giảm 50% số thuế phải nộp trong 9 năm tiếp theo đối với các doanh nghiệp mới thành lập, miễn giảm thuế thu nhập cá nhân (tùy theo đối tượng). Tỉnh Quảng Nam cũng cam kết miễn, giảm thuế theo khung quy định của Chính phủ, ngoài ra tỉnh áp dụng thuế suất, thuế thu nhập doanh nghiệp 10% trong thời hạn 15-30 năm kể từ khi đưa dự án vào hoạt động. Tỉnh Bình Định miễn thuế thu nhập doanh nghiệp trong vòng 4 năm kể từ ngày dự án hoàn thành và đưa vào sử dụng, đánh thuế thu nhập doanh nghiệp 0-20%. Miễn, giảm thuế thu nhập doanh nghiệp với thời gian từ 1-9 năm.

Kết quả khảo sát ở (bảng 2) cho thấy phần lớn các doanh nghiệp đánh giá tốt ưu đãi về thuế đối với doanh nghiệp du lịch ở Vùng chiếm 63,5%, chưa tốt chỉ chiếm 5%.

Bảng 2. Đánh giá ưu đãi về thuế đối với doanh nghiệp DL vùng KTTĐMT

Mức độ

Tần số (doanh nghiệp)

Tần suất (%)

Rất tốt

0

0,0

Tốt

127

63,5

Bình thường

63

31,5

Chưa tốt

10

5,0

Tổng

200

100,00

Nguồn: Kết quả phân tích số liệu từ điều tra trực tiếp doanh nghiệp du lịch,
n = 200

Thứ ba, về chính sách đất đai, trên cơ sở Luật Đất đai và các quy định hiện hành của nhà nước về đất đai, các tỉnh Vùng KTĐMT đã có những quy định cụ thể việc sử dụng đất cho kinh doanh du lịch. Ở tỉnh Thừa Thiên Huế hỗ trợ 50% kinh phí bồi thường, hỗ trợ, tái định cư nhưng tối đa không quá 5 tỷ đồng một dự án. Riêng đối với những dự án đầu tư kinh doanh du lịch cần thiết quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh hỗ trợ tối đa không quá 10 tỷ đồng. Thành phố Đà Nẵng miễn tiền thuê đất đối với những vùng kinh tế khó khăn, hỗ trợ 100% tiền sử dụng cơ sở hạ tầng trong hai năm đầu kể từ ngày giao đất. Tỉnh Quảng Nam và tỉnh Quảng Ngãi ưu đãi về đất đai (miễn và giảm) theo khung quy định của Chính phủ. Tỉnh Bình Định miễn tiền thuê đất 7 đến 15 năm kể từ ngày dự án hoàn thành đưa vào sử dụng và miễn 100% tiền thuê đất đối với địa bàn khó khăn, những địa bàn còn lại các doanh nghiệp sẽ được giảm 20 - 30% tiền thuê đất.

Tuy nhiên, theo các nhà đầu tư kinh doanh du lịch cho rằng các trường hợp được giao đất, cho thuê đất để đầu tư dự án du lịch, dịch vụ, đầu tư kinh doanh du lịch sinh thái, du lịch nghỉ dưỡng,… ở các tỉnh Vùng KTTĐMT khó khăn nhất hiện nay là việc bồi thường, giải tỏa để thực hiện các dự án đầu tư. Nghị định 84/2007/NĐ-CP của Chính phủ quy định bổ sung cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, thu hồi đất. Nhưng quy định thu hồi đất không được áp dụng cho từng dự án du lịch riêng lẻ (trừ trung tâm thương mại, khách sạn cao cấp, khu du lịch có mối liên kết về kết cấu hạ tầng, về loại hình kinh doanh và có nhiều chủ thể cùng kinh doanh), như vậy các chủ dự án phải tự thỏa thuận chuyển nhượng quyền sử dụng đất đối với các hộ gia đình, các cá nhân thuộc dự án.

Đây là vấn đề đảm bảo lợi ích cho người có quyền sử dụng đất. Tuy nhiên, không có quy định cụ thể các biện pháp can thiệp của nhà nước và chính quyền các địa phương khi các nhà đầu tư không thỏa thuận được hoặc thỏa thuận được một phần như giá thỏa thuận người dân đưa lên cao nhà đầu tư không có khả năng nhận chuyển nhượng; thời gian thỏa thuận kéo dài ảnh hưởng đến tiến độ đầu tư của họ trong khi các dự án đầu tư có quy định thời hạn.

Kết quả khảo sát ở (bảng 3) cho thấy phần lớn các doanh nghiệp đánh giá phí chuyển nhượng, cho thuê mặt bằng kinh doanh đối với doanh nghiệp du lịch ở Vùng còn cao, vì vậy ảnh hưởng đến hiệu quả đầu tư của các doanh nghiệp. Ở (bảng 4) cho thấy có lợi nhuận đầu tư lĩnh vực này chưa cao, vẫn còn những doanh nghiệp thua lỗ và hòa vốn.

Bảng 3. Đánh giá về phí chuyển nhượng, cho thuê mặt bằng kinh doanh

đối với doanh nghiệp du lịch vùng KTTĐMT

Mức độ

Tần số (doanh nghiệp)

Tần suất (%)

Rất cao

2

1,0

Cao

170

85,0

Bình thường

26

13,0

Thấp

2

1,0

Tổng

200

100,00

Nguồn: Kết quả phân tích số liệu từ điều tra trực tiếp doanh nghiệp du lịch,
n = 200

Bảng 4. Đánh giá hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp du lịch Vùng KTTĐMT

Hiệu quả

Tần số (doanh nghiệp)

Tần suât (%)

Lợi nhuận cao

4

2,0

Lợi nhuận như mong nuốn

123

61,5

Hòa vốn

62

31,0

Lỗ

11

5,5

Tổng

200

100,00

Nguồn: Kết quả phân tích số liệu từ điều tra trực tiếp doanh nghiệp du lịch, n = 200

Có đến 184 doanh nghiệp (chiếm 92%) cho rằng yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động kinh doanh và đầu tư của doanh nghiệp là nhà nước, chính quyền địa phương, vì vậy nhà nước và chính quyền địa phương cũng cần quan tâm nhằm hài hòa hơn nữa lợi ích để thu hút ngày càng nhiều doanh nghiệp đầu tư trong lĩnh vực du lịch thúc đẩy du lịch Vùng phát triển hơn nữa (bảng 5).

Bảng 5. Đánh giá yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp

                                             Du lịch vùng KTTĐMT

Yếu tố

Tần số (doanh nghiệp)

Tần suất (%)

Nhà nước, chính quyền địa phương

184

92,0

Lao động

5

2,5

Du khách

11

5,5

Tổng

200

100,00

Nguồn: Kết quả phân tích số liệu từ điều tra trực tiếp doanh nghiệp du lịch,
n = 200

2.2. Lợi ích của chính quyền địa phương nơi có hoạt động du lịch

Sự phát triển của ngành du lịch trong thời gian qua đã mang lại những lợi ích thiết thực cho các tỉnh Vùng KTTĐMT.

Thứ nhất, lượng khách du lịch cũng như doanh thu của du lịch tăng liên tục trong những năm qua ở tất cả các tỉnh/thành phố Vùng KTTĐMT điều đó đã tăng khả năng đóng góp của du lịch vào sự phát triển và tăng trưởng kinh tế của các tỉnh trong Vùng nói riêng và toàn Vùng nói chung. Nếu năm 2005 thu nhập du lịch đạt 1.345,582 tỷ đồng đến năm 2010 đạt 6.015,875 tỷ đồng và đến cuối năm 2016 con số này tăng lên 24.476,623 tỷ đồng, tăng hơn 23 lần so với năm 2005 (bảng 6)

            Bảng 6. Doanh thu du lịch ở các tỉnh vùng KTTĐMT

                                                                                                  Đơn vị tính: Tỷ đồng

Tỉnh

Năm

Thừa Thiên Huế

Đà Nẵng

Quảng Nam

Quảng Ngãi

Bình Định

Tổng của Vùng

2005

543,400

406,480

317,702

78

90

1.345,582

2010

1.338,530

3.098

1.104,345

215

260

6.015,875

2015

2.985,295

11.800

2.578,00

560

1.000

18.923,295

2016

3.203,823

16.082,8

3.100,00

640

1.450

24.476,623

Nguồn:- Số liệu: Sở Du lịch và Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch các tỉnh vùng KTTĐMT

Sự tăng trưởng này cho thấy khả năng đóng góp của du lịch trong GRDP của Vùng cao chiếm 3,5% GDP toàn Vùng. Ngành du lịch đang từng bước khẳng định vị trí quan trọng trong cơ cấu kinh tế của mỗi địa phương trong Vùng và toàn Vùng. Các tỉnh Thừa Thiên Huế, Đà Nẵng, Quảng Nam, Bình Định có tỷ trọng ngành du lịch trong khối dịch vụ cao và trong cơ cấu kinh tế chung cao trên 50%. Tỉnh Quảng Ngãi mức độ đóng góp chưa cao tuy nhiên đang có chiều hướng tăng lên.

…Việc phát triển du lịch của các tỉnh trong Vùng KTTĐMT đã mang lại những hiệu quả thiết thực, nó không chỉ khai thác tiền năng du lịch của Vùng, mà còn góp phần tăng trưởng GDP của toàn Vùng và các tỉnh trong Vùng, bộ mặt xã hội của các tỉnh trong vùng thay đổi… (Ý kiến của một cán bộ quản lý ngành du lịch Thừa Thiên Huế 6.2016 ) 

Thứ hai, ngành du lịch của Vùng phát triển đã góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Cơ cấu kinh tế của Vùng đã có sự chuyển dịch rõ rệt theo hướng tiến bộ, giảm nhanh tỷ trọng ngành nông nghiệp và tăng nhanh tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ. Năm 2005 nông nghiệp chiếm 25% đến năm 2015 giảm còn 15%, trong lúc đó ngành dịch vụ từ 38,90% năm 2005 tăng lên 40,50% năm 2015.

 “Du lịch phát triển đã kéo theo nhiều ngành nghề khác nhau phát triển cả công nghiệp, nông nghiêp, xây dựng đặc biệt là các ngành dịch vụ dẫn đến cơ cấu kinh tế thay đổi theo hướng tiến bộ đáp ứng mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh, của Vùng và cả nước”. (Ý kiến của một cán bộ quản lý ngành du lịch Quảng Ngãi 5/2016 ) 

Thứ ba, trong thời gian qua, du lịch của Vùng phát triển làm cho cơ sở hạ tầng, cơ sở vật chất kỹ thuật của Vùng thay đổi, cải tạo được bộ mặt thành thị, nông thôn của Vùng. Vì phát triển du lịch đi đôi với việc mở rộng, nâng cấp hệ thống giao thông, hệ thống cung cấp điện, nước sạch, phát triển các khu du lịch, vui chơi, giải trí, công viên, trung tâm thương mại, khách sạn, nhà hàng,… thực tế cho thấy nhiều công trình vật chất kỹ thuật du lịch của Vùng góp phần làm đẹp thêm bộ mặt các tỉnh/thành phố như: Phát triển du lịch ở Thừa Thiên Huế với việc đầu tư vào cơ sở hạ tầng đang trên đà đưa thành phố trở thành đô thị loại 1, một đô thị “sinh thái xanh” của châu Á. Không chỉ có thành phố Huế, các huyện lỵ Hương Trà, Hương Thủy trở thành thị xã với cơ sở hạ tầng phát triển khá đồng bộ khi các dự án du lịch hoàn thiện như: Dự án Khu du lịch Tân Cảnh Dương, Dự án Khu du lịch sinh thái đầm Lập An tại Khu kinh tế Chân Mây - Lăng Cô; Dự án Khu du lịch nghỉ dưỡng nước nóng Mỹ An; Dự án Khu du lịch nghỉ dưỡng Thuận An,… đã làm thay đổi diện mạo và góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế chung của toàn khu vực phía Nam tỉnh Thừa Thiên Huế.

 Ở Đà Nẵng có FPT City Đà Nẵng được thiết kế với mật độ không gian xanh (công viên, cây xanh, ao hồ, mặt nước,…) lên đến 60%, với việc áp dụng nhiều công nghệ thông minh như hệ thống tưới nước tự động, hệ thống sử lý nước thải vi sinh công nghệ Nhật Bản, nhà phố - biệt thự được thiết kế thông minh, tận dụng tối đa ánh sáng, xây dựng bằng các vật liệu không nung,… dự án đã mang lại sự thay đổi toàn diện bộ mặt phía nam thành phố Đà Nẵng. Hay quần thể sân golf, resort, biệt thự nghỉ dưỡng và khu giải trí cao cấp FLC Quy Nhơn tại thành phố Quy Nhơn đã làm thay đổi bộ mặt của vùng ven biển Nhơn Lý,…

 Cũng như các địa phương khác trong vùng tỉnh Bình Định đang xúc tiến đầu tư phát triển du lịch nhằm thay da đổi thịt kinh tế - xã hội của tỉnh. Hai năm gần đây, đầu tư phát triển du lịch của tỉnh tăng, lượng khách ngày một đông, nguồn thu từ khách tăng, bộ mặt đô thị và nhiều địa phương trong tỉnh đã thay đổi. Nhiều vùng miền trong nước và thế giới đã biết tới Bình Định là một điểm đến hấp dẫn…” (Ý kiến của một cán bộ quản lý tỉnh Bình Định 4/2016 ) 

Du lịch phát triển đã mang lại nguồn thu, giải quyết việc làm cho người lao động, bảo vệ và phát huy những tài nguyên du lịch cả tự nhiên và nhân văn, bộ mặt thành thị và nông thôn thay đổi nhờ đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng và cơ sở vật chất từ các dự án đầu tư phát triển du lịch…” (Ý kiến của một cán bộ quản lý ngành du lịch Quảng Nam 5/2016 )

2.3.Lợi ích của cộng đồng dân cư nơi có hoạt động du lịch

 Hoạt động kinh tế du lịch của các tỉnh Vùng KTTĐMT trong quá trình phát triển đã góp phần đáng kể trong việc tạo việc làm cho người lao động ở các tỉnh Vùng KTTĐMT. Số lao động trong du lịch tăng nhanh qua các năm, nếu như ở năm 2005 toàn Vùng có 15.439 lao động đến năm 2010 tăng lên 31.538 lao động và đến năm 2016 con số này là 78.456 lao động (bảng 7). Như vậy, chỉ trong vòng 11 năm số lao động trong ngành du lịch tăng lên gần 6 lần thu hút thêm 63.017 lao động, trung bình mỗi năm trong giai đoạn này du lịch các tỉnh Vùng KTTĐMT thu hút thêm hơn 5.728 lao động với tốc độ tăng trưởng bình quân 16%.

Sự phát triển du lịch của Vùng đã tác động tới vấn đề việc làm một cách tích cực, tạo ra nhiều việc làm cho người lao động không chỉ thời điểm hiện tại mà cả tương lai, điều này không chỉ thể hiện lợi ích thiết thực mà cộng đồng dân cư ở đây còn được hưởng lợi toàn diện từ sự phát triển của du lịch. Đặc biệt là thông qua lợi ích của dân cư, doanh nghiệp và địa phương về phát triển du lịch đã góp phần tích cực từng bước hiện thực hóa các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của các tỉnh/thành phố trong Vùng.

Bảng 7. Số lượng lao động du lịch ở các tỉnh vùng KTTĐMT

Đơn vị tính: Người

 

Tỉnh

Năm

Thừa Thiên Huế

Đà Nẵng

Quảng Nam

Quảng Ngãi

Bình Định

Tổng của Vùng

2005

4.530

4.247

3.380

2.170

1.112

15.439

2010

8.100

6.800

8.000

6.045

2.593

31.538

2015

12.000

24.843

22.500

9.300

4.300

72.943

2016

12.500

27.000

23.700

10.100

5.156

78.456

Nguồn: Sở Du lịch và Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch các tỉnh vùng KTTĐMT

Để tìm hiểu lợi ích mang lại từ hoạt động du lịch cho cộng đồng dân cư ở các tỉnh/thành phố trong Vùng, chúng tôi đã sử dụng phương pháp điều tra thực tế thông qua bảng hỏi để lấy ý kiến dân cư địa phương các điểm du lịch của các tỉnh trong Vùng, cụ thể đã chọn: Thừa Thiên Huế hai điểm du lịch: làng Phước Tích ở xã Phong Hòa, huyện Phong Điền và phường Thủy Biều, thành phố Huế. Đà Nẵng hai điểm du lịch: xã Hòa Bắc, huyện Hòa Vang và phường Hải Hòa, quận Ngũ Hành Sơn. Quảng Nam hai điểm du lịch: phố cổ Hội An và làng Trà Nhiêu, xã Duy Vinh, huyện Duy Xuyên. Quảng Ngãi hai điểm du lịch: xã An Vĩnh, huyện đảo Lý Sơn và xã Tịnh Khê, huyện Sơn Tịnh. Bình Định hai điểm du lịch: xã Nhơn Lý và phường Gềnh Ráng. Mỗi điểm lấy ý kiến phỏng vấn ngẫu nhiên 50 người dân. Trong 500 phiếu điều tra dân cư ở 10 điểm du lịch của năm tỉnh phần lớn là nữ 350 người (chiếm 70%), số người từ 30 đến 50 là 278 người (chiếm 55,6%), trên 50 tuổi 184 người (chiếm 36,8%), làm nghề nông 305 người (chiếm 61%), buôn bán 125 người ( chiếm 25%)…

Lợi ích của cộng đồng dân cư trong phát triển du lịch của Vùng thể hiện ở việc làm, thu nhập và tác động của nó đến môi trường sống,… của dân cư địa phương thể hiện ở (bảng 8) có 465 phiếu cho rằng hoạt động du lịch mang đến việc làm cho người lao động (chiếm 93%); nhưng chỉ có 183 phiếu (chiếm 36,6%) cho rằng hoạt động du lịch mang đến việc làm cho chính bản thân họ, trong đó thu nhập từ hoạt động du lịch mang lại cho họ chưa cao chỉ có 27 phiếu trả lời thu nhập trên 30 triệu mỗi năm (chiếm 14,75%) còn 156 phiếu thu nhập dưới 30 triệu mỗi năm (chiếm 85,25%); có 125 phiếu trả lời thu nhập và việc làm từ hoạt động du lịch chưa mang tính ổn định và thường xuyên (chiếm 68,3%); có 167 phiếu cho rằng phát triển du lịch ở địa phương có ảnh hưởng đến việc làm của họ trước đây (chiếm 33,4%), 100% đều cho rằng phát triển du lịch đã đem lại nhiều thay đổi ở địa phương mình.

Trong đó 412 phiếu cho rằng sự thay đổi đó tốt (chiếm 82,4%) còn 88 phiếu cho rằng sự thay đổi mà phát triển du lịch mang lại cho địa phương là không tốt (chiếm 17,6%), có 437 phiếu cho rằng những tệ nạn xã hội xuất hiện và có chiều hướng tăng lên ở địa phương (chiếm 87,4%), trong đó 389 phiếu cho rằng do phát triển hoạt động du lịch (chiếm 77,8%), có 354 phiếu cho rằng đã có sự xung đột, mâu thuẫn giữa chính quyền địa phương, doanh nghiệp kinh doanh du lịch và dân cư (chiếm 70,8%), tuy nhiên có đến 467 phiếu đồng tình việc tiếp tục đầu tư phát triển du lịch ở địa phương (chiếm 95,2%).

Bảng 8. Kết quả khảo sát lợi ích của dân cư  hoạt động du lịch Vùng KTTĐMT

Câu hỏi

Mức độ

Tần số

(Người)

Tần suất

(%)

1. Hoạt động DL ở địa phương ông (bà) có mang đến việc làm cho lao động địa phương không?

465

93,0

Không

35

7,0

2. Hoạt động du lịch ở địa phương ông (bà) có mang đến việc làm cho ông (bà) không?

183

36,6

Không

317

63,4

3. Nếu có thì thu nhập từ hoạt động này của ông (bà) một năm bao nhiêu?*

Dưới 30 triệu

156

85,25

Trên 30 triệu

27

14,75

4. Thu nhập và việc làm từ hoạt động du lịch của ông (bà) có ổn định và thường xuyên không?*

58

31,7

Không

125

68,3

5. Du lịch phát triển ở địa phương ông (bà) có ảnh hưởng đến đời sống của dân cư ở đây không?

478

95,6

Không

22

4,4

6. Du lịch phát triển ở địa phương ông (bà) có ảnh hưởng đến việc làm trước của ông (bà) không?

167

33,4

Không

333

66,6

7. Du lịch phát triển có đem lại những thay đổi ở địa phương ông (bà) không?

500

100,00

Không

0

0,00

8. Nếu thay đổi, theo ông bà thay đổi thế nào?

Tốt

412

82,4

Không tốt

88

17,6

9. Gần đây ở địa phương ông (bà) có xuất hiện những tệ nạn xã hội không?

437

87,4

Không

63

12,6

10. Nếu có, theo ông (bà) những tệ nạn xã hội đó có phải do phát triển du lịch không?

Đúng

389

77,8

Không đúng

111

22,2

11. Ở địa phương ông (bà) có xảy ra xung đột, mâu thẫn giữa chính quyền địa phương, doanh nghiệp kinh doanh du lịch và người dân không?

354

70,8

Không

146

29,2

12. Theo ông (bà) có nên tiếp tục đầu tư phát triển du lịch ở địa phương không?

467

95,2

Không

33

6,6

Tổng

500

100,0

Tổng*

183

100,0

Nguồn: Số liệu thống kê mô tả từ mẫu khảo sát

Qua kết quả khảo sát trên cho thấy người dân địa phương đã có cơ hội hưởng lợi trực tiếp, gián tiếp từ hoạt động du lịch. Tuy nhiên việc làm và thu nhập tạo ra cho người dân ở địa phương chưa nhiều và còn thiếu bền vững. Việc phát triển các khu điểm du lịch vẫn thường xảy ra mâu thuẫn về lợi ích giữa cộng đồng dân cư với doanh nghiệp du lịch và chính quyền về đất đai, không gian sống, việc làm, thu nhập…. Công tác quản lý của chính quyền địa phương trong hoạt động đầu tư, phát triển du lịch vẫn chưa được chú trọng và chưa có tính hiệu quả cho nên nhiều tệ nạn xã hội nãy sinh song song với hoạt động du lịch như: mại dâm, ma túy, trộn cắp,…ảnh hưởng đến đời sống của người dân địa phương.

3. Đề xuất giải pháp chủ yếu giải quyết quan hệ lợi ích tạo động lực phát triển du lịch

Qua khảo sát về giải quyết quan hệ lợi ích cho thấy, các bên tham gia hoạt động du lịch đã có cơ hội hưởng lợi trực tiếp và gián tiếp từ ngành du lịch. Song mặt trái của phát triển du lịch là tồn tại những mâu thuẫn về lợi ích giữa các chủ thể có liên quan đến hoạt động du lịch. Để phát triển du lịch một cách bền vững, hiệu quả đảm bảo lợi ích hài hòa nhằm tạo ra động lực cho các bên tham gia phát triển du lịch cần thực hiện tốt một số giải pháp chủ yếu sau:

Một là, tăng cường và nâng cao năng lực quản lý nhà nước theo hướng đảm bảo lợi ích hài hòa cho các chủ thể tham gia hoạt động du lịch.

Các tỉnh/thành phố trong Vùng KTTĐMT cần tăng cường công tác tuyên truyền, vận động nhân dân  nâng cao hơn nữa nhận thức về phát triển du lịch. Kiện toàn bộ máy tổ chức, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước cấp tỉnh, huyện và cấp vùng về phát triển du lịch với tư cách là chủ thể quan trọng trong điều hòa xuất phát từ lợi ích chung và lợi ích từ các bên tham gia. Làm tốt việc quản lý các di tích lịch sử, văn hóa, quản lý các hoạt động du lịch, bảo vệ và phát triển môi trường du lịch. Phân công phân cấp rõ ràng giữa các cơ quan đơn vị và địa phương trong công tác quản lý nhà nước về du lịch… Tăng cường năng lực quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp du lịch nhằm phát triển ngành du lịch hiệu quả, bền vững, tăng khả năng cạnh tranh ở tầm quốc gia, quốc tế.

Đồng thời tuyên truyền, triển khai các biện pháp để bảo đảm trật tự an toàn xã hội. Phòng ngừa ngăn chặn các đối tượng lợi dụng hoạt động du lịch để thực hiện các hành vi vi phạm pháp luật…

Hai là, hoàn thiện cơ chế, chính sách ưu đãi tạo động lực khuyến khích các chủ thể tham gia hoạt động du lịch.

Thực hiện giải pháp này bao gồm nhiều nội dung, trong đó cần chú trọng ưu tiên thuế nhập khẩu đối với trang thiết bị khách sạn, cơ sở vật chất vui chơi giải trí phương tiện vận chuyển, vật tư phục vụ du lịch mà trong nước chưa sản xuất được. Cần có chính sách hợp lý hơn về thuế thu nhập doanh nghiệp du lịch, về giá điện nước trong kinh doanh khách sạn. Có sự phân loại về mức thuế, giá điện nước phù hợp cho từng loại hình và quy mô doanh nghiệp kinh doanh du lịch.

Đối với các doanh nghiệp đầu tư khai thác tài nguyên du lịch, nhất là ở vùng sâu, vùng xa, còn nhiều khó khăn về kinh tế và đi lại; hay vùng có tiềm năng tạo ra những khu du lịch, các điểm đến và có nhiều sản phẩm du lịch có sức cạnh tranh thì chính quyền các tỉnh trong Vùng cần đổi mới chính sách đầu tư theo hướng quan tâm đến lợi ích để tạo động lực thúc đẩy phát triển du lịch. Một số nội dung khuyến khích như: trợ giá, miễn giảm thuế có thời gian đối với các nhà đầu tư. Bên cạnh đó cần có mức thuế cao hợp lý đối với các doanh nghiệp đầu tư khai thác sử dụng nguồn tài nguyên dồi dào, có giá trị, dễ khai thác, hiệu quả kinh doanh cao…

Đồng thời tiếp tục dẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, không ngừng cải tiến cung cách làm việc, có thái độ hợp tác tốt, hỗ trợ có hiệu quả cho các nhà đầu tư cả trước, trong và sau dự án… Có chính sách ưu đãi và thủ tục thông thoáng để các công ty lữ hành trong và ngoài nước đặt chi nhánh, văn phòng đại điện tại các địa phương trong Vùng.

Ba là, xây dựng môi trường hoạt động du lịch minh bạch, chú trọng lợi ích của các bên tham gia.

Có thể nói rằng ngoài nâng cao năng lực quản lý của nhà nước; đổi mới cơ chế, chính sách để thúc đẩy du lịch phát triển thì vấn đề xây dựng môi trường hoạt động du lịch minh bạch, thuận lợi và đảm bảo hài hòa lợi ích cho các chủ thể tiếp cận ngành du lịch là rất quan trọng. Môi trường được đề cập ở đây là môi trường kinh tế, xã hội, tự nhiên và môi trường chính sách, giữa chúng có mối tác động qua lại với nhau, tạo nên môi trường chung bình đẳng, để các chủ thể có cơ hội như nhau trong tham gia kinh doanh, cũng như nhận được lợi ích thiết thực, hợp lý từ hoạt động du lịch.

Trước tiên đối với các nhà đầu tư kinh doanh du lịch, chính quyền địa phương các tỉnh trong Vùng phải có sự cam kết trong đào tạo, cung cấp nguồn nhân lực của địa phương cho doanh nghiệp, đồng thời chú trọng giải quyết việc làm cho dân cư, nhất là những nơi còn nhiều khó khăn và những nơi doanh nghiệp đang tập trung khai thác, sử dụng các nguồn tài nguyên du lịch của địa phương. Đồng thời có sự tham gia giám sát của cộng đồng địa phương trong việc thực hiện các cam kết về hỗ trợ việc làm, bảo vệ môi trường, bảo vệ tài nguyên, chăm lo lợi ích công đồng…

Đối với cộng đồng dân cư, cần khuyến khích, tạo mọi điều kiện để người dân tham gia phát triển du lịch bằng các biện pháp chính sách như: hỗ trợ về cơ sở vật chất hạ tầng, hỗ trợ ban đầu về vốn, về lãi suất cho vay, miễn, giảm thuế đất, thuế thu nhập…Việc làm này nhằm huy động được nguồn lực cả vật chất và con người trong cộng đồng dân cư trên cơ sở thúc đẩy lợi ích tạo động lực phát triển, đẩy mạnh đa dạng hóa và nâng cao chất lượng dịch vụ du lịch.

Đối với nhà nước với tư cách là chủ thể, đóng vai trò quan trọng trong xây dựng chiến lược, kế hoạch phát triển du lịch để thúc đẩy nền kinh tế quốc gia cũng như địa phương phát triển, cần phải đổi mới quy hoạch, đổi mới xây dựng các phương án chia sẻ lợi ích giữa các bên tham gia hoạt động kinh doanh du lịch như doanh nghiệp, cộng đồng và địa phương từ việc tạo ra lợi nhuận cao cho doanh nghiệp, tạo ra nhiều công ăn việc làm mới mang tính ổn định và thu nhập cao hơn cho cộng đồng dân cư địa phương, đến việc chia sẽ lợi ích từ nguồn thu du lịch để hỗ trợ các cơ sở phúc lợi chung của cộng đồng như: điện, đường, trường, trạm, chợ, giao thông… việc làm này sẽ tạo ra động lực tốt trong tham gia phát triển du lịch của cộng đồng dân cư, cũng như gắn kết với doanh nghiệp và chấp hành tốt chủ trương, chính sách phát triển du lịch của nhà nước.

4. Kết luận

Hiện nay đã có rất nhiều nghiên cứu cả lý luận và thực tiễn về phát triển du lịch, trong đó có nhiều nghiên cứu đi sâu, toàn diện các mặt, các yếu tố liên quan đến phát triển du lịch như: vấn đề tài nguyên, nhân lực, tài chính, cơ chế, chính sách, môi trường, liên kết và quan hệ lợi ích… trong phát triển du lịch, nhờ đó đã góp phần quan trọng vào phát triển ngành du lịch của đất nước, vùng, địa phương…

Dưới góc độ quan hệ lợi ích, hoạt động du lịch là tổng thể những hoạt động và mối quan hệ phát sinh do tác động qua lại giữa người kinh doanh du lịch, chính quyền địa phương và cộng đồng dân cư. Quan hệ lợi ích trong phát triển du lịch là quan hệ lợi ích giữa nhà kinh doanh du lịch, chính quyền địa phương và cộng đồng dân cư nơi có hoạt động du lịch. Muốn hoạt động du lịch có hiệu quả cần phải giải quyết tốt quan hệ lợi ích của 3 chủ thể nói trên để tạo động lực chung cho ngành du lịch. Theo đó, để ngành du lịch phát triển theo chúng tôi cần tập trung thực hiện tốt, đồng bộ các giải pháp chủ yếu sau: tăng cường và nâng cao năng lực quản lý nhà nước theo hướng đảm bảo lợi ích hài hòa cho các chủ thể tham gia hoạt động du lịch; hoàn thiện cơ chế, chính sách ưu đãi tạo động lực khuyến khích các chủ thể tham gia hoạt động du lịch; và xây dựng môi trường hoạt động du lịch minh bạch, chú trọng lợi ích của các bên tham gia.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Nguyễn Đình Hiền. 2013. “Tổ chức kinh doanh du lịch giữa các tỉnh duyên  hải miền Trung với các nước trong khu vực”. Kỷ yếu Hội thảo “Phát triển sản phẩm du lịch các tỉnh duyên hải miền Trung”, tổ chức tại Khánh Hòa.

 2. Nguyễn Đình Hiền, Hồ Thị Minh Phương. 2014. “Liên kết phát triển du lịch giữa các tỉnh Vùng kinh tế trọng điểm miền Trung với bắc Tây Nguyên”. Kỷ yếu hội thảo, Phát triển du lịch vùng duyên hải miền Trung gắn với đại ngàn Tây Nguyên.

3. Nguyễn Đình Hiền, Hồ Thị Minh Phương. 2017. “Liên kết phát triển du lịch Vùng kinh tế trọng điểm miền Trung trong bối cảnh mới”. Diễn đàn kinh tế miền Trung 2017 (Lần thứ 2) “Con đường phát triển kinh tế miền Trung bền vững”, Đà Nẵng.

 4. Hồ Thị Minh Phương. 2016. “Những lợi thế và tiềm năng phát triển kinh tế du lịch ở Vùng KTTĐMT”. Kinh tế châu Á - Thái Bình Dương, (12.2016).

 5. Hồ Thị Minh Phương. 2017. “Phát triển kinh tế du lịch ở vùng kinh tế trọng điểm miền Trung: Lợi ích của cộng đồng dân cư”. Kinh tế và Dự báo, số 15 (5.2017).

 (Theo Kỷ yếu Hội nghị Phát triển Du lịch miền Trung và Tây Nguyên tại tỉnh Thừa Thiên Huế 2.2019)

Đánh giá
Đánh giá của bạn sẽ được biên tập trước khi xuất bản
Họ và tên
(*)
Thư điện tử
(*)
Tiêu đề
Nội dung
(*)
Cùng chuyên mục
1.618 lượt xem - 01.08.2018 : 8:36p
Tin đọc nhiều
31.396 lượt xem - 07.03.2012 : 16:37p
26.596 lượt xem - 07.03.2012 : 16:35p
16.762 lượt xem - 30.11.2012 : 10:31p
16.249 lượt xem - 20.03.2012 : 15:26p
16.134 lượt xem - 27.09.2013 : 9:14p
16.048 lượt xem - 25.03.2015 : 16:16p